29/04/2021 10:09
Xem với cỡ chữ

Chuyển đổi số và những vấn đề đặt ra đối với Ngân hàng Phát triển

Ngọc Hà (bài đăng Tạp chí HTPT, Tháng 4/2021).
Để thích ứng với tình hình mới và tận dụng cơ hội mà cuộc Cách mạng Công nghệ lần thứ 4 mang lại, ngày 27/9/2019, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cấp bách để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số. 
Trên cơ sở đó, ngày 03/6/2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định số 749 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” (Chương trình Chuyển đổi số quốc gia). Chương trình Chuyển đổi số quốc gia nhằm mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu; với tầm nhìn đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng.
Vai trò của chuyển đổi số và chuyển đổi số tại Việt Nam
Chuyển đổi số (Digital Transformation) có thể dễ bị nhầm lẫn với khái niệm Số hóa (Digitizing). Để phân biệt hai khái niệm này, có thể hiểu rằng “Số hóa” là quá trình hiện đại hóa, chuyển đổi các hệ thống thường sang hệ thống kỹ thuật số (chẳng hạn như chuyển từ tài liệu dạng giấy sang các file mềm trên máy tính, số hóa truyền hình chuyển từ phát sóng analog sang phát sóng kỹ thuật số...); trong khi đó, “Chuyển đổi số” là khai thác các dữ liệu có được từ quá trình số hóa, rồi áp dụng các công nghệ để phân tích, biến đổi các dữ liệu đó và tạo ra các giá trị mới hơn. Có thể xem “Số hóa” như một phần của quá trình “Chuyển đổi số”.
Có nhiều định nghĩa và cách hiểu về chuyển đổi số bởi vì quá trình áp dụng chuyển đổi số sẽ có sự khác biệt ở từng lĩnh vực khác nhau. Theo Gartner (Công ty tư vấn và nghiên cứu toàn cầu cung cấp thông tin, tư vấn và công cụ cho các doanh nghiệp về công nghệ thông tin, tài chính, nhân sự, dịch vụ khách hàng…), chuyển đổi số là việc sử dụng các công nghệ số để thay đổi mô hình kinh doanh, tạo ra những cơ hội, doanh thu và giá trị mới. Còn Microsoft cho rằng: chuyển đổi số là việc tư duy lại cách thức các tổ chức tập hợp mọi người, dữ liệu và quy trình để tạo những giá trị mới… Như vậy, có thể hiểu chuyển đổi số là sự tích hợp các công nghệ kỹ thuật số vào tất cả các lĩnh vực của một doanh nghiệp, tận dụng các công nghệ để thay đổi căn bản cách thức vận hành, mô hình kinh doanh và cung cấp các giá trị mới cho khách hàng của doanh nghiệp đó cũng như tăng tốc các hoạt động kinh doanh. Chuyển đổi số cũng là một sự thay đổi về văn hóa của các doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục thay đổi, thử nghiệm cái mới và thoải mái chấp nhận các thất bại. Tại Việt Nam, khái niệm “Chuyển đổi số” thường được hiểu theo nghĩa là quá trình thay đổi từ mô hình doanh nghiệp truyền thống sang doanh nghiệp số bằng cách áp dụng công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), Internet cho vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud)… nhằm thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa công ty.
 Theo các chuyên gia phân tích và nghiên cứu thị trường thì 5 mục đích cuối cùng mà các doanh nghiệp chuyển đổi số hướng đến bao gồm: Tăng tốc độ ra thị trường; Tăng cường vị trí cạnh tranh trên thị trường; Thúc đẩy tăng trưởng doanh thu; Tăng năng suất của nhân viên; Mở rộng khả năng thu hút và giữ chân khách hàng. Chuyển đổi số mang lại nhiều lợi ích như cắt giảm chi phí vận hành, tiếp cận được nhiều khách hàng hơn trong thời gian dài hơn, lãnh đạo ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn nhờ hệ thống báo cáo thông suốt kịp thời. Qua đó, hiệu quả hoạt động và tính cạnh tranh của tổ chức, doanh nghiệp được nâng cao. 
Nghiên cứu của Microsoft cho thấy, năm 2017, tác động của chuyển đổi số tới tăng trưởng năng suất lao động vào khoảng 15%, đến năm 2020, con số này là 21%. Cũng theo nghiên cứu của Microsoft tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, năm 2017, tác động mà chuyển đổi số mang lại cho GDP là khoảng 6%, năm 2019 là 25% và tới năm 2021 sẽ là 60%. Kết quả nghiên cứu của McKensey chỉ ra rằng, vào năm 2025, mức độ tác động của chuyển đổi số tới GDP của nước Mỹ sẽ vào khoảng 25%, với đất nước Brazil là 35%, còn ở các nước châu Âu là khoảng 36%. Từ đây, có thể thấy khả năng tác động của chuyển đổi số đối với tăng trưởng GDP là rất lớn. 
Trước đây chỉ có các công ty lớn, có rất nhiều tiềm lực kinh tế mạnh mới có thể tiếp cận được công nghệ, do đó họ luôn dẫn đầu thị trường, ít nhất là một vài bước. Nhờ chuyển đổi số, hiện nay các công ty nhỏ hay những startup mới đều có thể tiếp cận được công nghệ không thua kém gì những công ty lớn. Không chỉ có vai trò quan trọng tại các doanh nghiệp mà chuyển đổi số còn đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực khác của xã hội. Đối với con người bình thường, chuyển đổi số làm thay đổi cách chúng ta sống, làm việc và giao dịch với nhau. Còn đối với Nhà nước, chuyển đổi số dùng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi trải nghiệm người dùng với các dịch vụ do Nhà nước cung cấp, thay đổi quy trình nghiệp vụ, thay đổi mô hình và phương thức hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước. 
Chuyển đổi số tác động sâu rộng, bao trùm lên tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội, góp phần tăng năng suất lao động, chuyển đổi mô hình hoạt động, kinh doanh theo hướng đổi mới sáng tạo, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Chuyển đổi số còn là cuộc cách mạng của toàn dân. Chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi mỗi một người dân tích cực tham gia và thụ hưởng các lợi ích mà chuyển đổi số mang lại. 
Chuyển đổi số đang ngày càng thay đổi nhận thức của những nhà lãnh đạo, những người có khả năng quyết định hướng đi và khả năng chuyển đổi thành công của tổ chức, quốc gia. Nhiều quốc gia sau khi nhận ra tầm quan trọng của chuyển đổi số trong việc gia tăng hiệu quả hoạt động và đảm bảo an ninh quốc gia, đã lập tức bước vào “cuộc đua” mới trong việc áp dụng chuyển đổi số.
Tốc độ chuyển đổi số tại các khu vực và quốc gia là khác nhau, tùy thuộc vào mức độ phát triển công nghệ và tốc độ chuyển đổi mô hình doanh nghiệp. Trong đó khu vực châu Âu được đánh giá là khu vực có tốc độ chuyển đổi số nhanh nhất, tiếp đến là Mỹ và các quốc gia tại châu Á. 
Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi số đã bắt đầu diễn ra, nhất là trong những ngành như tài chính, giao thông, du lịch... Chính phủ và chính quyền các cấp đang nỗ lực xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số. Hơn 30 thành phố cũng dự định xây dựng Smart City với các nền tảng công nghệ mới... Các mô hình chuyển đổi số cũng đang tạo ra những dịch vụ có ích cho người dân và tận dụng một cách hiệu quả nguồn lực nhàn rỗi của xã hội. Thế mạnh công nghệ mới đang giúp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp giành lợi thế trên các lĩnh vực công nghiệp truyền thống. Xu thế này tạo ra những thay đổi quan trọng trong chuỗi giá trị các ngành công nghiệp cũng như chuỗi cung ứng toàn cầu. 
Trong bối cảnh của nền kinh kế số hiện nay, đòi hỏi các tổ chức, doanh nghiệp và mô hình truyền thống phải có sự thay đổi mạnh mẽ để tiếp tục tồn tại và phát triển. Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch FPT, khẳng định: "Câu hỏi mà các doanh nghiệp phải đặt ra: làm thế nào để tăng trưởng, để có khách hàng, để có lợi nhuận, nhưng cách trả lời rất khác biệt và những công ty chuyển đổi số sẽ thể hiện sự vượt trội. Nói cách khác, nếu không chuyển đổi số, sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ thua về bậc và sớm muộn phải ra đi". Giáo sư Hồ Tú Bảo, thuộc Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM), cho rằng doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ không thể nói "không" với chuyển đổi số: "Chuyển đổi số là con đường tất yếu, các doanh nghiệp cần hiểu rõ và có chiến lược theo đuổi một cách cụ thể, có sự đầu tư đúng đắn cho những công cụ quan trọng của chuyển đổi số như AI, khoa học dữ liệu, phân tích kinh doanh....”.
Với dân số 96 triệu người và là nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất nhì khu vực, dân số trẻ năng động và có khả năng tiếp cận công nghệ cao nhanh chóng, các chuyên gia đánh giá Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc chuyển đổi số. Đây là những cơ hội mạnh mẽ để các doanh nghiệp Việt Nam tạo ra sự đột phá trên thị trường nhờ vào chuyển đổi số.
Khái quát quá trình chuyển đổi số của các ngân hàng Việt Nam và tình hình chuyển đổi số tại Ngân hàng Phát triển 
Quá trình chuyển đổi số của các ngân hàng Việt Nam
Trong bối cảnh kinh tế số phát triển, trong thời gian qua, ngành ngân hàng Việt Nam đã đầu tư mạnh vào công nghệ với định hướng tập trung tạo ra các dịch vụ mới và xây dựng nên lợi thế cạnh tranh của các NH (NH). Xu hướng này càng được củng cố hơn khi thanh toán điện tử được đẩy mạnh trong những năm gần đây, tạo nên làn sóng thúc đẩy phát triển mảng NH số tại Việt Nam.
Sự thay đổi trong thói quen của người tiêu dùng đặt ra những cách thức mới trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính của các tổ chức tài chính truyền thống như NH trên phạm vi toàn cầu. Ngoài ra, trong bối cảnh cạnh tranh mà sự xuất hiện của các công nghệ mới cùng với các công ty FinTech đã buộc các NH Việt Nam phải xem việc chuyển đổi số là một nhiệm vụ cấp bách để không bị bỏ lại trong cuộc đua chuyển đổi số. 
Làn sóng chuyển đổi số của các NH Việt Nam đã diễn ra mạnh mẽ trong 3 - 4 năm gần đây, thể hiện qua việc phát triển các sản phẩm mới. Đầu năm 2017, TPBank ra mắt ứng dụng TPBank LiveBank. Đầu năm 2018, OCB ra mắt ứng dụng OCB OMNI. Tháng 9/2018, VPBank ra mắt ứng dụng NH số Yolo sau mô hình NH số Timo. NH Quân đội (MB) cho phép khách hàng chuyển tiền qua ứng dụng Facebook và tạo ra một kênh giao tiếp mới với khách hàng trẻ qua ứng dụng eMBee fanpage. NH BIDV đưa ra thị trường sản phẩm BUNO - chuyển tiền chỉ với số điện thoại của người nhận, không cần nhớ số tài khoản. Kể từ khi ra mắt Không gian giao dịch công nghệ số - Vietcombank Digital Lab vào năm 2016 thì đến năm 2019, Vietcombank cũng đặt trọng tâm chiến lược phát triển NH số tại đại hội đồng cổ đông thường niên.
Một số chỉ số để đánh giá chuyển đổi số của các NH như: chỉ số sẵn sàng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT - ICT index) và các chỉ số thành phần như: hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng nhân lực, ứng dụng CNTT nội bộ và dịch vụ trực tuyến của NH. Xu hướng phát triển sản phẩm mới trên được hỗ trợ bởi việc đầu tư cũng như ứng dụng CNTT của ngành NH. Trong các năm qua, các NH Việt Nam đã có những đầu tư đáng kể cho CNTT như đầu tư cho hệ thống core banking và tăng tỷ trọng của các quy trình tự động hóa một phần cũng như toàn bộ. Các khoản đầu tư cho hạ tầng nhân lực và hạ tầng kỹ thuật của NH cũng được chú trọng.
Mặc dù xác định chuyển đổi số là xu hướng tất yếu, nhưng có sự chênh lệch trong mức độ đầu tư cho công nghệ cũng như quá trình chuyển đổi số của các NH. Trong đó, BIDV liên tục đứng đầu về ICT Index trong giai đoạn 2017 - 2019, và đứng đầu về chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT. Trong đó, các hạng mục về hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng CNTT nội bộ NH đứng đầu trong năm 2019.  Ngoài BIDV có thứ hạng cao, các NHTM có vốn Nhà nước như VCB, Viettinbank và Agribank đều có thứ hạng thấp hơn nhiều NH TMCP. NH Nam Á tập trung vào lĩnh vực nguồn nhân lực và dịch vụ trực tuyến và đứng thứ 2 về chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT. Trong khi NH Phương Đông đứng thấp nhất trong khối NH TMCP tư nhân trong lĩnh vực này. NH Dầu khí Toàn cầu đứng cuối bảng về mảng dịch vụ trực tuyến và hạ tầng kỹ thuật.
Chuyển đổi số của NH phụ thuộc vào mức độ phát triển của NH và việc NH định vị chính mình trong hệ sinh thái mới. Các NH có ba giai đoạn phản ứng trong quá trình chuyển đổi số: Phản ứng với hình thức cạnh tranh mới; Thích ứng công nghệ và Định vị chiến lược. Quá trình chuyển đổi số của các NH Việt Nam hiện tại chủ yếu đang ở giai đoạn đầu. Tuy nhiên đã có sự phân hóa giữa các NH, trong đó nhóm các NH có vốn Nhà nước (VCB, BIDV, VietinBank) với những lợi thế về vốn đã có sự đầu tư đáng kể nhằm thích ứng với công nghệ (giai đoạn 2). 
Việc triển khai NH số của Việt Nam đang đi đúng với xu hướng của thế giới cũng như chủ trương tiêu dùng không tiền mặt của NH Nhà nước Việt Nam. Điều này giúp ngành NH phát triển và khách hàng cũng được hưởng lợi từ những tiện ích mà NH số mang lại.
Tình hình chuyển đổi số tại Ngân hàng Phát triển Là NH chính sách của Chính phủ, Ban lãnh đạo Ngân hàng Phát triển nhận thức rõ chuyển đổi số là xu thế tất yếu của hiện tại và tương lai đối với các NH, trong đó, NH số là đích đến còn chuyển đổi số là quá trình thực hiện với nhiều cấp độ nhằm hướng tới NH số đích thực. Xác định đích đến luôn là điều kiện, tiền đề quan trọng nhưng con đường đi đến đích còn quan trọng hơn. Để thực hiện quá trình chuyển đổi số cần quan tâm đến những vấn đề về thể chế, pháp lý, kinh nghiệm thực tiễn chuyển đổi số của các NH khác và đặc biệt phải quan tâm đến việc đào tạo nguồn nhân lực cho quá trình chuyển đổi số NH. 
Hiện Ngân hàng Phát triển đang tập trung tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu. Vấn đề chuyển đổi số và xây dựng chiến lược chuyển đổi số luôn nằm trong sự quan tâm của cấp ủy đảng, lãnh đạo Ngân hàng Phát triển đã kịp thời quán triệt các văn bản liên quan đến chuyển đổi số cho cán bộ, đảng viên và người lao động trong hệ thống, đặc biệt là Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4”, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Trong thời gian tới, Ngân hàng Phát triển sẽ ban hành các văn bản chỉ đạo về thực hiện chuyển đổi số tại đơn vị và sẽ tìm kiếm và thiết lập đối tác chiến lược đồng hành cùng Ngân hàng Phát triển trong quá trình chuyển đổi số.
Tại Ngân hàng Phát triển có Trung tâm Công nghệ Thông tin có chức năng tham mưu cho Lãnh đạo Ngân hàng Phát triển các lĩnh vực: Xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển, ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động nghiệp vụ và công tác quản trị, điều hành của Ngân hàng Phát triển; triển khai và quản lý các dự án CNTT; vận hành, bảo trì hệ thống CNTT của Ngân hàng Phát triển đảm bảo hoạt động thông suốt, ổn định và an toàn. Mỗi Chi nhánh, Sở Giao dịch đều có cán bộ chuyên trách về CNTT. 
Đối với lĩnh vực hạ tầng số: Ngân hàng Phát triển thực hiện kết nối mạng LAN, WAN và truyền số liệu, Internet đã có hiệu quả, kết cấu hạ tầng phủ khắp, các ứng dụng công nghệ đã được áp dụng vào toàn bộ hoạt động, đạt được các mục tiêu rõ ràng theo kế hoạch xuyên suốt. Trong lĩnh vực nâng cao trải nghiệm khách hàng: Hiện nay, Ban Quản lý rủi ro đang phối hợp xây dựng 02 phần mềm quản lý khách hàng (Phần mềm Quản lý thông tin và quan hệ khách hàng (CRM) và phần mềm cung cấp dữ liệu gửi Trung tâm thông tin Tín dụng CIC); 02 phần mềm này đang tiếp tục hoàn thiện, chạy thử và chỉnh sửa lỗi phát sinh (nếu có). 
Trong thời gian tới, Ngân hàng Phát triển tiếp tục triển khai chuyển đổi số trong lĩnh vực: an ninh an toàn mạng và dữ liệu; quản lý chuỗi cung ứng, bán hàng. Ngân hàng Phát triển đã và đang tập trung nguồn lực, trí tuệ và tích cực phối hợp với các đơn vị liên quan, cấp có thẩm quyền; chủ động nắm bắt, bám sát chỉ đạo của Chính phủ để thực hiện chuyển đổi số. 
Khó khăn, vướng mắc và nhiệm vụ thời gian tới
Có thể nói, phát triển Ngân hàng số là một trong những xu hướng chủ đạo giúp các NH Việt Nam có thể thích ứng và phát triển bền vững trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0. Tuy nhiên, nhiệm vụ chuyển đổi và phát triển thành công mô hình NH số đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi các NH Việt Nam phải cân nhắc để vượt qua. Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 còn diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng tiêu cực đến tới kinh tế thế giới và Việt Nam, ngành NH đã và đang đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số để “biến nguy thành cơ”, sẵn sàng nắm bắt cơ hội tăng trưởng nhanh thời kỳ hậu COVID-19. Chuyển đổi số là xu thế tất yếu. Đại dịch COVID-19 càng khẳng định điều này. Trong đại dịch đã có hàng triệu doanh nghiệp phá sản và nhiều ngành, nhiều lĩnh vực rơi vào khủng hoảng nhưng cũng có nhiều ngành, doanh nghiệp đã sớm bước vào kinh tế số, chuyển đổi số và không chỉ trụ được mà còn vượt lên trong đại dịch. 
Đối với Ngân hàng Phát triển, quá trình chuyển đổi số còn nhiều khó khăn và thách thức.
Thứ nhất, khuôn khổ pháp lý với những vấn đề mới phát sinh như quy định pháp luật về giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, hợp đồng điện tử, các vấn đề về định danh và xác thực các cơ chế và quy định về chia sẻ dữ liệu…
Thứ hai, yếu tố then chốt trong chuyển đổi số là cơ sở hạ tầng số đồng bộ, tập trung và có chuẩn kỹ thuật kết nối, chuẩn dữ liệu, cũng như những quy định về cơ sở dữ liệu dùng chung, hạ tầng an ninh, bảo mật… Nhưng đến nay hạ tầng đồng bộ và cơ sở dữ liệu vẫn đang là vấn đề, là điểm nghẽn.
Thứ ba, hệ thống Ngân hàng Phát triển đang thực hiện quá trình tái cơ cấu lại hoạt động theo Quyết định số 48/QĐ-TTg ngày 31/7/2019 về Đề án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2019-2021 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong quá trình triển khai tổ chức còn nhiều khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý liên quan đến tổ chức thực hiện chuyển đổi số tại hệ thống Ngân hàng Phát triển.
Thứ tư, trong quá trình tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu, thực hiện chuyển đổi cơ chế hoạt động, vấn đề tập trung nguồn lực tài chính cho chuyển đổi số cũng là một khó khăn.
Thứ năm, chuyển đổi số đồng bộ cần thiết phải có sự đào tạo bài bản, chuyên sâu nguồn nhân lực. Trong thực tế, việc tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực và chất lượng đội ngũ nhân lực bắt kịp yêu cầu của chuyển đổi số đã được Ngân hàng Phát triển chú trọng từ lâu bên cạnh việc đầu tư vào hệ thống máy móc, công nghệ mới nhưng hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn../.
Tìm theo ngày :

Khách online:9234
Lượt truy cập: 9359417